Tác phẩm văn học
NGUYỄN TUÂN - "CHÙA ĐÀN" VÀ TIẾNG VỌNG
“Ai hay hát mà ai hay nghe hát”....
Chưa bao giờ Nguyễn Tuân làm tôi hứng thú và phấn khích tuyệt đối, dẫu cho đã đọc một vài tác phẩm “vang bóng” trứ danh của người, chỉ ngoại trừ một lần, và nhiều lần kế đó thử lần giở đọc “Chùa Đàn” theo lời gợi ý của một cô giáo mà tôi vẫn luôn dành cho cô tất thảy niềm kính trọng. Có nhiều con đường và động lực để người ta “chạm” vào một công trình nghệ thuật nào đó. Lần này, tôi tìm đọc truyện của Nguyễn trước nhất bởi sự tò mò nhen nhóm từ cái tên lạ: “Chùa Đàn”
“Chùa Đàn” - thực nó là gì? Chùa để thờ vị thần đàn? Hay chùa có hình dáng giống cây đàn? Hay chùa chẳng có chi ngoài một cây đàn quý và cổ xưa đến độ người ta tôn sùng và xây hẳn một “cơ ngơi” cho nó nằm đó, người người ngày ngày ra vào chiêm ngắm?
Ngay từ tên tựa truyện, “nhà văn của hình dung từ” (Lã Nguyên) đã thành công gợi dậy một niềm say mê thích thú, đánh thức trong ta cái mong muốn nhanh chóng tiến vào và sống thật thành thực với từng trang viết, để tìm xem trong đó: “Chùa Đàn” có thực ăn may vừa khớp với một trong nhiều cách hiểu ta đã đoán dự từ trước, hay sẽ tạo ra một cú đả phá đầy mãnh liệt của bậc kỳ tài đánh tan bức tường định kiến trong “ngôi đền” trí óc thích tưởng tượng và nhiều tò mò của loài người.
Nhưng để tìm ra thứ gì đang được cẩn thận “phong kín” (chữ dùng của Nguyễn Tuân) sau cái tên “Chùa Đàn”, nếu không bàn tới cái “điểm vàng” của truyện: “chầu hát cuối cùng”, cái đêm hoan lạc mà khúc tam tấu đàn-ca-trống cất lên nhuộm một màu huyền diệu và say sưa cho không gian tác phẩm, thì kì thực là thiếu sót.
Kể từ ngày người vợ thương mến tử nạn vì tai ương tàu hỏa gây ra, Lãnh Út quyết đi tới bước đoạn tuyệt hoàn toàn với cái đời sống “văn minh” cơ giới, buộc người dân trong ấp Mê Thảo phải theo, và hơn thế là tự cắt đứt liên can với mọi sinh thú ở đời. Y dường như hóa điên dại và có một cuộc “thoát xác” - khi cái sinh khí cũ, sau cuộc đau lòng quá độ đã bay đi đâu mà giờ chỉ còn lại đây một cái xác không hồn. Bá Nhỡ mang theo cái ơn lớn mà bà chủ ban cho lúc cơ nhỡ khốn khó, giờ là dịp đem trả lại cho Lãnh Út – hằng ngày lo lắng đến “bạc đầu”, tìm đủ thứ cách trên đời thỏa mãn những đòi hỏi tưởng chừng phi lý và vô năng của cậu chủ: Gọi dậy ở y những si mê thuở trước đã chết, từ nhục cảm của một tửu đồ, cho đến khoái cảm tinh thần của một kẻ “hay nghe hát” và cuối cùng là cùng Cô Tơ tham gia vào chầu tam tấu thiêng liêng và kì lạ, tự tay mình chứng minh một lần nữa cái danh xưng tay trống sành sỏi mà đã quá lâu rồi, nó không còn được nhớ về hay nhắc đến. Chỉ mong cậu chủ quay trở lại mà “tục huyền” với đời sống, để hưởng những cái “kì thú” của nhân gian - thứ “sức mạnh sinh thành” (Lã Nguyên) vốn cao hơn tất thảy mọi sự sống nào khác.
Và ngay đây, cũng chính thứ “sức mạnh sinh thành” nảy sinh từ cái “kỳ thú” ấy đã đem lại cho đời sống vốn tưởng đã đi vào sáo mòn và khuôn cứng mấy kẻ say sưa, liều lĩnh, chẳng màng gì tới lòng ham sống, giày vò và day dứt giã từ “người bạn đạo đức khô khan” để chạy tới đắm chìm cuồng quay trong thế giới của đam mê và lạc thú. Cuộc chơi ấy, nó phá bung mọi giới hạn của luân lý đạo đức người ta thường gò mình tuân thủ, xé tan tác làn ranh giới ác-thiện, thoát khỏi cái quy chuẩn, cái trung tâm chú ý của số đông để nhấc chân bước qua vùng ngoại biên, vùng rìa, bởi lẽ, chỉ có ở đó, nó mới có cơ hội chạm tới cái đỉnh cao vút bất tận của thăng hoa. Nó là một cái khoảnh khắc kéo dài đầy mâu thuẫn và nghịch lý – vừa đau đớn, quằn quại và giằng xé, lại vừa tràn trề khoái cảm như một liều morphine từ hư vô, làm nhục thể rời rã, tan xương nát thịt kẻ dám vì nó mà làm mọi sự:
“Máu chảy ra nhiều quá. Toàn thân Bá Nhỡ đ.ỏ ngòm. Áo quần màu trắng của Bá Nhỡ vụt trở nên một vóc đại hồng. Người Bá Nhỡ là một cái vại đựng chất lỏng có nhiều chỗ rò rỉ. M.á.u trong cơ thể Bá Nhỡ cứ đều đều một dòng tuôn mà thẩm lậ.u ra ngoài”.
Sự phá tung giới hạn của thể xác đã là một minh chứng rõ nét cho sức mạnh bạo liệt bùng nổ xuất phát tự bên trong mà cái giá phải trả sau cùng cho cuộc hoan lạc là cái chết. Cái chết là cái tất yếu, bởi nó là thứ mà Bá Nhỡ - về một góc độ nào đó cũng có thể được coi là một kẻ liều lĩnh hiếm có, đã lựa chọn để hiến tế trọn vẹn cho đam mê và lạc thú, đánh đổi lại thứ khoái cảm đầy đớn đau.
“Nghệ thuật là sự thăng hoa của kì thú. Nó là khoái cảm thiêng liêng, là một thứ nghi lễ tôn giáo mà đám con nhang, đệ tử là kẻ chí thành, chí tình.”
- Lã Nguyên
Đến cuối cùng, cái góp phần, và cũng là cái đại diện, cái khởi sinh ra thứ khoái cảm đau đớn ấy là chiếc “đàn” ma – được phong kín như một điều gì sẽ trở thành bất tử, thành vĩnh viễn, trong không gian thiêng liêng: “chùa”.
“Chùa Đàn” hóa ra không chỉ là nơi thiêng hóa chiếc “đàn”, mà còn trở thành chốn mà những kẻ dám dùng thân mình để đổi lại thứ “khoái cảm đau đớn” thờ phụng, và cũng chính là nơi “phong kín” mãi mãi cảm giác đau-đớn-thăng-hoa cùng cái đẹp. “Chùa Đàn” là một ổ khóa “được” mã hóa vừa vì khả năng lưu giữ đặc biệt, vừa vì cái nguy hiểm tiềm tàng của nó và cũng vừa vì mong muốn giữ nó mãi mãi là điểm giao kết giữa những kẻ “hay hát” và người “hay nghe hát”, giữa những người còn sống nơi trần thế Lãnh Út, Cô Tơ, và kẻ đã nằm xuống Bá Nhỡ, Chánh Thú. Sự kết nối âm – dương tạo nên một không gian bất tận của nghệ thuật, để tiếng đàn, tiếng trống và tiếng hát trong buổi tam tấu kia thực sự trở thành một tiếng vọng kinh điển:
“Tiếng đàn hậm hực, chừng như không thoát hết được vào không gian. Nó nghẹn ngào, liễm kết cái u uất vào tận bên trong lòng người thẩm âm. Nó là một cái tâm sự không tiết ra được.... Nó là cái oan uổng nghìn đời của cuộc sống thanh âm. Nó là sự khốn nạn khốn đốn của chỉ tơ con phím.
Nó là tiếng vọng.
“Chùa Đàn” là tiếng vọng.
Tác giả: Anh Thư
Biên tập: Anh Thư