Tác phẩm văn học
"NGUYỆT CẦM" VỚI "ĐÀN TRĂNG" - XUÂN DIỆU
Ngay từ nhan đề, “Nguyệt cầm” đã gợi ra một thế giới có gì đó huyền ảo, thậm chí ma mị. “Nguyệt cầm” là gì? Là đàn nguyệt? Nếu chỉ thế, Xuân Diệu sao không gọi thẳng là “đàn nguyệt”? Hay đó là tiếng đàn của trăng? Hay là trăng đã hóa đàn, đàn đã hóa trăng, đến mức không còn biết đâu là ánh sáng, đâu là thanh âm, đâu là cái hữu hình đang treo trên trời, đâu là thứ vô hình đang rung lên trong khoảng không lạnh ngắt của một đêm khuya?
Hay: “Nguyệt cầm” là tất cả những điều ấy.
“Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh”
Trăng không soi xuống đàn. Trăng cũng không đứng ngoài đàn để làm một thứ phông nền đẹp đẽ và thơ mộng. Trăng nhập vào dây cung - một cách nói ma mị, như chuyện hồn nhập vào xác, thần nhập vào người vậy. Cây đàn trước đó có lẽ mới chỉ là một vật thể, có dây, có phím, có khả năng phát ra âm thanh. Nhưng từ khi trăng nhập vào, đàn bỗng có một thứ linh hồn. Nguyệt cầm chỉ là nguyệt cầm khi nó có linh hồn, ấy là hồn trăng.
Có lẽ vì thế mà ngay sau đó, rất khó còn phân biệt cái gì thuộc về đàn, cái gì thuộc về trăng:
“Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần.
Đàn buồn, đàn lặng, ôi đàn chậm!
“Một giọt rơi tàn như lệ ngân”
Trăng và đàn lúc này như đang chơi cùng một bản nhạc, hoà hợp một cách kì lạ. Không chỉ từ cách ngắt nhịp câu, mà còn ở cảm xúc: “thương”- “buồn”, “nhớ”- “lặng”, “ngần”- “chậm”. Khi này, bản hoà tấu ấy đã đạt tới đỉnh cao: giọt là giọt tiếng đàn, cũng là giọt lệ của trăng; và“lệ ngân” là giọt bạc và cả giọt nước mắt.
“Linh lung bóng sáng bỗng rung mình.”
“Lung linh” thì ta đã quen. Ánh sáng lung linh, mặt nước lung linh, sao trời lung linh. Nhưng “linh lung” nghe khác hẳn. Vẫn từng ấy âm tiết, chỉ cần Xuân Diệu đảo vị trí đi một chút, cái đẹp quen thuộc bỗng trở thành thứ gì vừa sáng vừa linh dị, như thể trong cái bóng sáng ấy có một sinh thể đang ẩn náu. Và quả nhiên, nó “rung mình”. Ánh sáng mà cũng rung mình được hay sao? Viết tới đây tôi chợt nhớ tới câu thơ trong thi phẩm “Huyền diệu”:
“Còn cứ rung hoài, trong chiếc lá
Sau khi trận gió đã im lìm.”
Xuân Diệu dường như ám ảnh với cảm giác “rung”. Nhưng lần này, cái rung động giao hòa đi vào ánh sáng, quyện vào màn đêm và tâm hồn người thưởng cảnh, làm cho cả ngoại giới lẫn nội tâm cũng phải “rung” lên xúc động.
“Đàn ghê như nước, lạnh, trời ơi...
Long lanh tiếng sỏi vang vang hận:
Trăng nhớ Tầm Dương, nhạc nhớ người.”
Nếu cái Tôi trong “Nhị hồ” còn yêu, còn buồn, còn tủi với Nhạc, trong Nhạc, thì trong “Nguyệt cầm”, trước sự vĩ đại, sự mơ hồ và huyền bí của cõi Nhạc, thì không còn yêu ghét, không còn vui buồn, không còn hữu thể, không còn vô thể, không còn gì cả. Chỉ còn Nguyệt cầm. Thứ cảm xúc duy nhất còn sót lại có lẽ là sự “rợn người” trước Nhạc, cái Tôi chỉ còn biết kêu lên những âm thanh tê buốt, những tiếng “trời ơi” trước sức mạnh to lớn và tuyệt đối của tiếng đàn. Nhạc đã chiếm lĩnh tâm hồn thi nhân, không còn khoảng trống cho bất cứ điều gì khác. Khổ thơ này có một sự thăng hoa trong lối đối ngẫu, đạt tới đỉnh cao ở hai câu cuối khổ thơ. Thay vì lối đối ngẫu khá “lộ liễu” trong “Nhị hồ” (“Sương nương theo trăng ngừng lưng trời/ Tương tư nâng lòng lên chơi vơi”, lần này thi nhân đã nhuần nhuyễn hơn. Đầu tiên, hai câu đều chia theo nhịp 4/3, như vậy ta để ý thấy sự đối xứng giữa âm thanh và hình ảnh: “long lanh” chỉ hiện tượng thị giác, còn “vang vang” chỉ âm thanh. Song, như vậy cũng chưa hoàn toàn thoả đáng, tiếng sỏi sao có thể “long lanh”. Phải chăng vì phản chiếu bóng của trăng ở bến Tầm Dương (thị giác)? Hay thực ra “tiếng sỏi” chính là tiếng đàn như thành hình như viên sỏi, từng giọt từng giọt rơi xuống(thính giác)? (ý của TS. Chu Văn Sơn trong “BĐCTM”)
Lại một vế đối nữa giữa hai cách kiến giải lời thơ.
“Bốn bề ánh nhạc: biển pha lê.
Chiếc đảo hồn tôi rợn bốn bề.”
Bốn bề đều chỉ là Nhạc. Khi này, chẳng còn thế giới nào hết, chẳng còn ranh giới nào hết, giữa thực và nhạc. Cái Tôi của thi nhân lúc này thực nhỏ bé, so với cõi hư vô bất tận, thì chỉ là một mảnh vụn đương chao đảo, run rẩy, một “chiếc đảo hồn tôi” mà thôi. Cái Tôi nhỏ bé này rợn người theo Nhạc, và mọi âm thanh khác đều nhường lại cho Nhạc: “Sương bạc làm thinh, khuya nín thở”. Câu thơ cuối kết lại bài thơ:
“Nghe sầu âm nhạc tới sao Khuê”
Tiếng nhạc không chỉ khiến ta “sầu”, nó khiến Xuân Diệu và mỗi một bạn đọc đọc bài thơ như run rẩy, như ảo não với những khúc đàn, như đau cùng tiếng Hồ cầm của Kiều, cùng tiếng hát khúc Hậu Đình Hoa, cùng tiếng tỳ bà còn vang mãi nơi bến Tầm Dương…
“Nguyệt cầm” có lẽ chính là một thế giới. Mặc dù trên đây tôi dùng từ “Nhạc” để mô tả thế giới này, như có lẽ nó còn hơn thế: huyền bí hơn, kỳ ảo hơn, rộng lớn hơn - Nguyệt cầm là tất cả.
Tác giả: Minh Hà
Biên tập: Anh Thư